DÂN TỘC BỐ Y

(CINET-DTV) - Người Bố Y đến định cư ở Việt Nam từ những năm 1797, cộng đồng người Bố Y mang theo những nét văn hóa riêng của mình, nhưng do dân số ít lại tiếp xúc, giao lưu với nhiều dân tộc cùng

nơi cư trú trong vùng, nên nét văn hóa truyền thống bị hòa trộn với văn hóa các dân tộc khác trong vùng.

Tên tự gọi: Bố Y

Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn hay Pu Nà

Nhóm địa phương: Bố Y là một cộng đồng người gồm 3 ngành chính là Pầu Y, Pầu Nả và Pầu Thỉn.

Dân số: Người Bố Y ở Việt Nam có dân 2.273 người. (1)

Ngôn ngữ: Tiếng nói Bố Y có dạng chữ viết riêng của mình, được các nhà ngôn ngữ tạo ra trong thập niên 1950.

Địa bàn cư trú: Cư trú tại 14 trên tổng số 63 tỉnh thành phố.  Người Bố Y cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai (1.398 người, chiếm 61,5 % tổng số người Bố Y tại Việt Nam), Hà Giang (808 người, chiếm 35,5 % tổng số người Bố Y tại Việt Nam), Yên Bái  (19 người),Tuyên Quang (18 người). (1)

Tết Nguyên đán: Ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch,Tết Nguyên Đán của người Bố Y còn được gọi là“Cổ Nhuể”, từ trung tuần tháng 12 âm lịch, người dân Bố Y trong các làng bản đã bắt đầu bận rộn với những công việc chuẩn bị để đón tết.

Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam vào khoảng những năm 1797 (cách đây khoảng 215 năm)

Văn hóa: Đến định cư ở Việt Nam, cộng đồng người Bố Y mang theo những nét văn hóa riêng của mình, nhưng do dân số ít lại tiếp xúc, giao lưu với nhiều dân tộc cùng nơi cư trú trong vùng, nên nét văn hóa truyền thống bị hòa trộn với văn hóa các dân tộc khác trong vùng. Văn hóa dân gian như truyện cổ tích, thần thoại của người Bố Y không được ghi chép mà chỉ truyền miệng từ đời này sang đời khác. Văn nghệ dân gian của người Bố Y hiện nay mang tính pha trộn của nhiều dân tộc khác. Từ những lời ca, tiếng hát, điệu khèn, đến những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyện kể dân gian cũng như những nét văn hóa trên trang phục.

Hoạt động sản xuất: Dân tộc Bố Y vốn thành thạo nghề làm ruộng nước nhưng do điều kiện cư trú trên vùng cao, nên họ canh tác cả trên nương rẫy, tận dụng đất đai và khí hậu vùng cao mát mẻ để sản xuất, đảm bảo cuộc sống. Nguồn sống chính của họ là trồng ngô, thứ đến là lúa, chủ yếu là lúa tẻ. Trước đây, lúa nương nhiều hơn lúa ruộng. Lương thực phụ của họ có khoai lang, sắn, dong riềng, vừng….và các loại rau đậu khác được trồng xung quanh vườn nhà. Người Bố Y chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, nuôi cá. Nghề thủ công của người Bố Y đa dạng, đồng bào làm đồ gốm, chế tác đá, chạm đồ trang sức bằng bạc; nghề mộc, nghề dệt khá phát triển.

Chú giải:

 (1): Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009